Một nghiên cứu thú vị ! Hãy xem để biết xu thế du học quốc tế và chính sách của các nước…
Với hơn ba triệu sinh viên đang học
tập bên ngoài đất nước của mình, các trường đại học và chính phủ các quốc gia
đều hết sức nhạy bén về các yếu tố môi trường có khả năng tăng nguồn sinh viên
quốc tế và làm cách nào để hợp tác phát triển quốc tế
Mới có một chỉ số mới được đưa ra trong cuộc Hội thảo Going Global để cố gắng định lượng mức độ mở
cửa về hợp tác quốc tế của các quốc gia liên quan đến đào tạo đại học.
Chỉ số này do Hội đồng Anh kết hợp với Economist Intelligence Unit nghiên cứu
đưa ra, chỉ số này nghiên cứu về chính sách ở 11 quốc gia để lượng hóa mức độ
hợp tác quốc tế, các cơ sở đào tạo ở nước ngoài, các chương trình đào tạo liên
kết với nước ngoài, các ấn phẩm và bằng sáng chế, động cơ học tập của sinh viên
và các chương trình đào tạo, chính sách visa, chất lượng, xét duyệt và thừa
nhận bằng cấp của nước ngoài.
Đức chiếm vị trí hàng đầu với chỉ số tổng thể nhấn mạnh tầm quan trọng của
nhập khẩu và xuất khẩu đào tạo. Úc và Anh lần lượt xếp thứ hai và thứ ba, là
những nước có môi trường cởi mở nhất đối với các hợp tác quốc tế và có các chính
sách quốc tế tham vọng nhất.
Trung Quốc và Malaysia bám sát gót các nước trên với mục tiêu đầy tham vọng là
quốc tế hóa giáo dục đại học.
Theo nghiên cứu trên, "Điều làm cho nước Đức khác biệt hẳn so với các quốc
gia khác là việc nhấn mạnh đều cả về xuất khẩu và nhập khẩu. Trong khi họ đặt
mục tiêu tăng 20% lượng sinh viên quốc tế đến Đức du học, thì đồng thời họ cũng
có các chương trình hỗ trợ sinh viên từ Đức ra nước ngoài học tập một cách hợp
lí hơn hẳn so với bất kì quốc gia nào khác”
Đức là một trong số hiếm hoi các nước cấm các trường công lập thu tiền học
phí của sinh viên quốc tế cao hơn so với sinh viên trong nước, cấm việc mở các
cơ sở đào tạo vì lợi nhuận. Theo nghiên cứu, thì nếu Đức cho phép được làm hai
việc trên, thì chỉ số của nước này còn cao hơn nữa.
Anh và Úc được coi là hai nước chú trọng đặc biệt đến lợi ích tiền tệ khi chiêu
tuyển học sinh quốc tế bằng cách thu hút luồng học sinh đi vào nước mình và sự
linh hoạt trong bằng cấp. Tuy nhiên, cả hai đều đạt điểm cao về đảm bảo chất
lượng và sự thừa nhận bằng cấp.
Nghiên cứu trên cũng chỉ ra rằng Trung Quốc và Malaisia, lần lượt đứng ở vị
trí thứ tư và tứ năm, là những ví dụ tốt cho việc chuyển đổi nhanh chóng từ một
đất nước xuất khẩu sinh viên, trở thanh nước nhập khẩu sinh viên
Malaysia thu hút sinh viên quốc tế và đặt ra mục đích là trở thanh trung tâm đào tạo
trong vùng, trong khi đó Trung Quốc có tham vọng xây dựng 100 trường đại học thuộc hạng đầu bảng của thế giới.
“Cả hai nước đều chú trọng hỗ trợ sinh viên, các nhà nghiên cứu và giảng dạy
đại học trong việc sinh viên ra nước ngoài du học và làm việc" (Cũng theo
nghiên cứu trên)
Chỉ số quốc tế được xây dựng từ ba tỉ số mới. Các tỉ số này đo lường chính
sách quốc gia, sự luân chuyển của sinh viên quốc tế và các hợp tác quốc tế.
Phối hợp ba tỉ số này cho chúng ta kết quả chỉ số cuối cùng.
Nghiên cứu cũng cho hay hầu hết các nước phát triển có môi trường hấp dẫn
nhất về đào tạo đại học, có xu hướng giống với các môi trường kinh doanh mở cửa
nói chung.
Trong khi đó, các nước như Brazil, Ấn Độ hiện đang cấm các cơ sở đào tạo
nước ngoài đặt chi nhánh đào tạo, làm cho các nước này có chỉ số thấp.
Tuy nhiên, các nước đang phát triển lại thúc đẩy sinh viên của mình đi du
học nước ngoài, Brazil là nước có tỉ lệ sinh viên ra nước ngoài so với tỉ lệ sinh
viên ở lại học tập trong nước là lớn nhất.
Đức và Anh cũng có chỉ số này cao, một phần bởi vì chương trình đào tạo EU
Eramus tạo điều kiện linh động cho sinh viên được học tập nhiều nơi. Đức cũng
là nước có chương trình đào tạo linh động về mặt địa lí nhất.
Quá nửa số nước trong số 11 nước được nghiên cứu không có hiện diện đào tạo
ở nước ngoài. Trong khi đó, Mỹ có 76 cơ sở đào tạo ở nước ngoài, Úc có 15, Anh
có 11, Ấn Độ có 10 và Malaisia có 5. Nga có một cơ sở đào tạo ở Dubai.
Trung Quốc không đặt cơ sở đào tạo ở nước ngoài, nhưng có 12 cơ sở đào tạo
nước ngoài ở Trung Quốc, có một trường của Trung Quốc được thành lập ở Mỹ.
Anh không chỉ mở các cơ sở đào tạo ở nước ngoài như là Nottingham Ningbo ở Trung
Quốc, mà còn thu hút các cơ sở đào tạo nước ngoài mở lớp Anh, có 5 trường Mỹ và
1 trường Malaisia ở Anh.
Nghiên cứu cũng cho thấy việc hợp tác chủ yếu nằm trong chương trình đào tạo
chứ hiếm khi hợp tác thành lập cơ sở đào tạo bởi vì rẻ hơn và có thể thực hiện
liên tục trong thời gian dài hàng nhiều thập kỉ. Anh và Úc là hai nước năng
động nhất trong phát triển các chương trình học ở nước ngoài, hiện tại riêng ở
Malaisia, các trường của Anh đang chạy 412 chương trình đại học và 75 chương
trình đào tạo sau đại học
Bảng so sánh các nước về mức độ mở cửa đào tạo đại học
|
Xếp hạng
|
Nước
|
Điểm (trên 10)
|
|
1
|
Đức
|
8.4
|
|
2
|
Úc
|
8.0
|
|
3
|
UK
|
7.2
|
|
4
|
Trung Quốc
|
6.4
|
|
5
|
Malaisia
|
6.0
|
|
6
|
Mỹ
|
5.7
|
|
7
|
Nhật Bản
|
4.7
|
|
8
|
Nga
|
4.5
|
|
9
|
Nigeria
|
3.8
|
|
10
|
Brazil và Ấn Độ
|
3.5
|
Theo: Yojana Sharma
28 March 2010
Issue: 117